Trong Triết học Hy lạp-La mã cổ đại, từ những mấy trăm năm trước công nguyên, các nhà triết học đã bắt đầu bàn luận về vấn đề khởi nguyên của thế giới. Trong số những nhà triết học đó, thật dễ dàng để nhận ra những cái tên quên thuộc, trước hết phải kể đến: Ta lét, Pytago, Arixtốt…Có những người cho rằng bản chất của thế giới là nhất nguyên, có người lại cho rằng thế giới là đa nguyên. Vậy chúng ta cùng đi từ quan đểm của một số nhà triết học tiêu biểu để xem liệu có thể đi đến một cái gì đó mới mẻ hơn hay không.

Đại diện cho phái nhất nguyên, trước hết phải kể đến Ta lét(625-547 TCN), ông  được biết đến nhiếu nhất như một nhà toán học với định lý nổi tiếng mà chắc hẳn ai cũng được học từ thời trung học:”Hai đường thẳng song song định ra trên hai đường thẳng giao nhau những đoạn thẳng tỷ lệ”. Ngoài toán học, ông còn quan tâm đến triết học, theo quan điểm của ông, nguồn gốc của thế giới của chúng ta là nước. Nước là bản chất chung của tất thảy mọi vật. Mọi thứ sinh ra từ nước và mất đi lại biến thành nước. Trái lời Ta lét, Hêraclít  cho rằng bản chất của mọi thứ là lửa. Lại đến Anaximan(610-546 TCN), ông cho rằng nguồn gốc và cơ sở của mọi vật là apeirôn-một thứ không xác định, vô định hình và vô cùng tận, tồn tại vĩnh viễn. So với Ta lét và Hêraclít, Anaximan cũng đã có trí tưởng tượng phong phú hơn, không còn lấy những thứ xung quanh làm bản nguyên của thế giới. Rồi cũng có người như Pytago dùng thứ phi vật chất như con số làm khởi nguyên cho thế giới.

Nói đến phái đa nguyên, cũng để cho công bằng, ta thử lướt qua triết học phương đông. Theo triết học cổ trung hoa, tất thảy mọi vật đều sinh ra từ ngũ hành:”Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”. Ngũ hành không phải là vật chất, chúng chỉ là quy ước để xét mối quan hệ của vạn vật.

Vậy quy kết lại, thế giới này sinh ra từ đâu? Theo Parmenit, mọi thứ đều có một đặc điểm chung là tồn tại, không có gì trên thế giới lại sinh ra từ hư vô-cái không tồn tại cả. Có lẽ quan điểm này giống với quan điểm của xã hội hiện tại, mà cũng có thể là nguồn gốc của nó. Nếu thừa nhận ý tưởng này như một chân lý, vậy khởi nguyên cũng phải có một khởi nguyên của chính nó. Vậy thì sẽ chẳng còn khái niệm khởi nguyên bởi con số của nó sẽ là vô hạn. Trong bất cứ tranh luận nào, bản chất của ngôn ngữ cũng không nên bị thay đổi. Khởi nguyên là từ được dùng để chỉ những thứ sinh ra mọi thứ khác và nó chỉ có 1.

Loại bỏ ý tưởng mọi thứ đều được sinh ra từ một cái gì đó, theo thói quen, ta xét thử 3 khả năng còn lại. Thứ nhất, mọi thứ đều sinh ra từ một thứ gì đó, trừ khởi nguyên. Có nghĩa là ta chấp nhận thực tế rằng khởi nguyên-một dạng tồn tại được sinh ra từ hư vô-một thứ phi tồn tại. Vậy câu hỏi ở đây là khi nào thì biết được chúng ta đã tìm thấy khởi nguyên? Điều này lại là vấn đề hóc búa. Cũng có thể dừng lại ở “chúa” hay những thứ đại loại vậy giống như mọi tôn giáo đã làm. Thứ hai, chỉ có một số thứ có khởi nguyên, số khác thì không. Giả thuyết này, xem ra, không mang lại đáp số đẹp. Làm sao để biết cái nào có khởi nguyên và cái nào không có? Thứ ba, mọi thứ đều sinh ra từ hư vô. Nói cách khác, không có khởi nguyên cho bất cứ thứ gì. Đến đây, cũng là theo thói quen, chúng ta lại có thể đi theo hai hướng. Một là, mọi thứ liên tục sinh ra từ hư vô và mất đi trở thành hư vô. Mọi sự biến đổi mà con người quan sát được chẳng qua chỉ là sự mất đi của cái này và sự nảy sinh của cái khác. Sự nảy sinh của một tồn tại không có nguyên nhân từ bất tồn tại nào khác. Các quy luật, mối quan hệ tương quan giữa các tồn tại mà con người nghiên cứu suốt nhiều ngàn năm chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên và không có ý nghĩa gì trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các tồn tại. Hai là, theo Parmenit và Dênôn(Zeno), sự tồn tại là bất biến, tính đa dạng là vận động cuả thế giới là không có thực. Mọi sự vận động mà con người cảm thấy đều được nảy sinh từ trí tưởng tượng của chính họ. Cũng như quan điểm của Marin Heidegger, khi con người suy nghĩ về một cái gì đó, người ta chỉ suy nghĩ về những thứ đã được con người ném vào nó. Không có cách nào để hiểu được sự tồn tại của nó.

Dênôn đưa ra nhiều nghịch lý  để chứng minh tính bất biến của thế giới. Tỷ dụ như: Asin và con rùa, Mũi tên bay, phân đôi…Ông đưa ra vài chục nghịch lý, theo một số tại liệu, nhưng đa số đã bị thất lại. Theo Arixtốt, Dênôn còn có ba nghịch lý sau đây:

Paradox of Place:

“… if everything that exists has a place, place too will have a place, and so on ad infinitum.”

Paradox of the Grain of Millet:

“… there is no part of the millet that does not make a sound: for there is no reason why any such part should not in any length of time fail to move the air that the whole bushel moves in falling. In fact it does not of itself move even such a quantity of the air as it would move if this part were by itself: for no part even exists otherwise than potentially.”

The Moving Rows:

“The fourth argument is that concerning the two rows of bodies, each row being composed of an equal number of bodies of equal size, passing each other on a race-course as they proceed with equal velocity in opposite directions, the one row originally occupying the space between the goal and the middle point of the course and the other that between the middle point and the starting-post. This…involves the conclusion that half a given time is equal to double that time.”

Bạn nào rảnh thì suy nghĩ và tìm cách lý giải, hi vọng tác giả sẽ có cơ hội bới lại chuyên này lên để thảo luận, một ngày nào đó.

Như thường lệ: Còn nữa