Ý tưởng về tiến hóa trong việc giải thích nguồn gốc của sinh vật lần đầu tiên được Charles Darwin-Nhà tự nhiên học người Anh đưa ra trong cuốn” Nguồn gốc các loài”  năm 1859. Trong bối cảnh xã hội thiên chúa giáo, nơi mà vạn vật được cho rằng có nguồn gốc từ bàn tay của chúa, ý tưởng của Darwin đã giết chết chúa cùng hệ thống tư tưởng của nhà thờ. Ngày nay, mặc dù được chấp nhận rộng rãi, thuyết tiến hóa của ông vẫn chưa thể được chứng minh, không ai nhìn thấy được quá trình biến hóa từ loài này sang loài khác, nhưng ý tưởng của ông đã được chứng minh là một công cụ tốt trong việc giải thích tính đa dạng của sinh vật. Một ý tưởng đơn thuần đó đã thay đổi tư duy về thế giới sinh vật, cũng như về chính con người chúng ta, rộng hơn nữa, về cả sự biến đổi dần dần là nguyên nhân của giới tự nhiên đa dạng.

Tính thuyết phục của thuyết tiến hóa Darwin thể hiện rõ trogn việc giải thích tính tương đồng của các loài sinh vật. Ngựa và ngựa vằn là hai loài khác nhau, nhưng có chân hoàn toàn giống nhau, Darwin giải thích tính tương đồng này là do hai loài có chung tổ tiên, nhờ sự tách biệt về địa lý, trải qua nhiều ngàn năm, tổ tiên của chúng đã biến đổi thành hai loài có nhiều đặc điểm khác nhau cho dù nhiều đặc điểm chung vẫn còn hiện hữu trên các cá thể mỗi loài. Trong cách giải thích của tôn giáo, chúa sáng tạo ra tất thảy mọi vật, việc các loài có những đặc điểm giống nhau hoặc khác nhau chỉ đơn thuần do bàn tay của chúa. Cách giải thích này cũng hoàn toàn hợp lý và không có cách nào để bác bỏ. Đây chính là lý do vì sao tôn giáo tồn tại và phát triển mạnh mẽ theo suốt quá trình hình thành nền văn minh của nhân loại.

Đối với các độc giả là người Việt, sống trong xã hội nơi mà đa số người dân không theo một tôn giáo đặc biệt nào, có lẽ việc giải thích sự tồn tại của thế giới bằng chúa có phần kì quặc. Vậy, tác giả xin được phép la cà sang chuyện tôn giáo một chút, hi vọng câu chuyện tôn giáo không những không làm phân tán chủ đề tiến hóa của ngày hôm nay, mà còn giúp độc giả hiểu hơn về tính chất xác thực và vai trò của lý thuyết này. Nhà vật lý người Anh Isaac Newton-cha đẻ của khoa học hiện đại coi chúa là mục tiêu và động lực của họat động khoa học. Ông đưa ra định luật hấp dẫn để giải thích chuyển động của các hành tinh, nhưng vẫn còn một câu hỏi khó trả lời: Cái gì đã khiến cho các hành tinh bắt đầu chuyển động. Câu trả lời của Newton hướng về chúa, ông tin vào cái hích ban đầu của chúa là nguyên nhân chuyển động của các hành tinh. Ngày nay, nước Mỹ với châm ngôn: In the god we trust, Vương quốc Anh với bài quốc ca: God save the queen, hay hầu hết các nước phương tây với thiên chúa giáo là quốc đạo, ta không thể phủ nhận việc dùng chúa để giải thích thế giới có sức thuyết phục rất cao. Trên quan điểm của nhà khoa học, có thể nói, sự tồn tại của chúa là lối thoát duy nhất về tinh thần. Nếu tin rằng thế giới có tính nhân quả như đa số giới khoa học vẫn tin, đằng sau mỗi hiện tượng và sự vật đều có hiện tượng và sự vật khác là nguyên nhân. Dãy nguyên nhân kết quả của tri thức này hẳn phải kéo dài tới vô hạn về cả quá khứ lẫn tương lai. Nói cách khác, nếu nói thế giới hiện tại được tạo nên bởi những gì xảy ra trong quá khứ và chúng ta, nếu phải tìm kiếm câu trả lời cho nguồn gốc của vũ trụ, sẽ phải đi hết dãy nhân quả vô hạn đó. Điều này dẫn đền một hệ quả khó chấp nhận, rằng con người sẽ không bao giờ biết được nguồn gốc tận cùng của vũ vụ, nói cách khác: Vũ vụ không có nguồn gốc tận cùng. Đây là một nghịch lý khó chấp nhận. Năm 2010, trong cuốn cách The grand design của Stephen Hawking và Leonard Mlodinow, hai ông cho rằng triết học đã chết, ứng cử viên sáng giá nhất cho lý thuyết lý giải vạn vật là thuyết M và vũ trụ có thể được sinh ra từ không gì cả.  Chắc hẳn, dù những điều nói trong cuốn sách có đúng đi chăng nữa, con người cũng sẽ không chịu hài lòng với “lý thuyết vạn vật” và nguồn gốc tận cùng của vũ trụ, và khái niệm” không gì cả cũng sẽ ngày càng trở thành đề tài hấp dẫn cho giới triết học.  Con người với khả năng nhận thức sinh ra vào giữa chuỗi nhân qủa, không biết bản thân đang nằm ở vị trí nào trong đó. Cái duy nhất mà con người đã và vẫn sẽ làm là suy nghĩ, không thể tưởng tượng nổi một con người có bộ óc mà không suy nghĩ thì sẽ ra sao. Nếu thế giới thực sự có lý thuyết vạn vật hay nguồn gốc cuối cùng của vũ trụ, nếu một ngày nào đó con người chúng ta tìm thấy chúng, thì sau đó chúng ta sẽ dùng bộ não và tính tò mò-quà tặng của chọn lọc tự nhiên- vào việc gì? Có một điều dễ dàng được đồng ý từ khi con người biết tới sự tuần hoàn của máu, rằng con người họat động giống như một cỗ máy, cấu tạo của cơ thể quyết định họat động ý thức. Thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, những cá thể con người với những tính chất ưu việt nhất là những cá thể tiếp tục tồn tại. Bên cạnh đó, một trong những bản năng của con người là tò mò và muốn khám phá, trong khi lý luận lại dẫn đến dãy vô hạn của tri thưc. Đây hẳn không phải là một sự trùng lặp khi biết rằng sự khám phá tri thức dẫn đến sự phát triển của xã hội và nòi giống con người. Rõ ràng, nghịch lý về dãy nguyên nhân kết quả  vô tận chính là một sản phẩm hoàn hảo gián tiếp của chọn lọc tự nhiên. Chính chọn lọc tự nhiên đã tạo ra con người hôm nay, với ý thức cùng tính bản năng tò mò khám phá, và cũng là nguyên nhân của nghịch lý vô hạn, khiến con người không thể dừng khám phá, ngừng tiến bộ.

Nhiều ngàn năm trước, có thể là 12000BC, cho dù việc xác nhận điều này còn nhiều điều tranh cãi, nền văn minh cổ đại nhất ra đời, con người bắt đầu quần cư và tạo lập xã hội. Đây là một bước chuyển biến lớn trong cách thức sinh họat, con người nguyên thủy  chuyển từ sinh sống theo bầy đàn sang những tổ chức lớn hơn, tạo cơ hội cho văn hóa nảy mầm hay nói theo Richard Dawkin, tạo điểm bắt đầu cho tiến hóa xã hội(Social evolution)-khái niệm mà chúng ta sẽ thảo luận từ giờ đến cuối bài. Năm 1976, Richard Dawkin, một nhà tập tính học và sinh học tiến hóa, xuất bản cuốn sách “Gen ích kỷ”(the selfish gene), đưa ra cho giới khoa học ý tưởng mang tính cách mạng về tiến hóa xã hội và đơn vị di truyền của nó:mene. Cuốn sách mang lại cho ông nhiều danh tiếng, những chủ đề được gợi mở từ cuốn sách trở thành trung tâm tranh cãi trong giới khoa học, cho dù trước ông khái niệm meme đã được đề cập đến trong tác phẩm của những nhà học giả ít được biết đến hơn như Richard Semon người Đức với cuốn Die Mneme hay Maurice Maeterlinck người Bỉ với cuốnThe Life of the White Ant. Vậy tiến hóa xã hội là gì? Nó khác với tiến hóa tự nhiên của Darwin như thế nào? Không quá ngạc nhiên, từ sự tương tự trong tên gọi, tiến hóa xã hội là một cách giải thích các hiện tượng xã hội dựa trên ý tưởng tiến hóa của Darwin, trong khi gene-một đoạn của phân tử DNA-mang ý nghĩa như là đơn vị cơ bản của di truyền trong sinh vật thì meme là đơn vị cơ bản của sự truyền tin giữa các cá thể trong xã hội. Qua phương tiện ngôn ngữ, mene(thông tin) được truyền đi giữa các cá thể, nhưng mene được tiếp nhập một cách khác nhau ở mỗi cá thể dẫn đến sai khác mà hậu quả của nó được biết đến trong di truyền học như là biến dị.

Khác với tiến hóa tự nhiên, trong đó biến dị được truyền sang thế hệ sau qua giao phối, phương tiện duy trì nòi giống tuyệt vời, là kết quả của nhiều triệu năm tiến hóa nhưng cũng mang trong mình nhược điểm khó tránh về “tốc độ”. Quá trình từ thụ tinh đến nuôi con cho đến khi thành thục đủ để tiếp tục quá trình duy trì nói giống mất nhiều lời gian, đặc biệt là ở người. Trái lại, meme, thông qua giao tiếp và đặc biệt là các phương tiện truyền thông hiện đại, truyền đi với tốc độ khủng khiếp. Ta cũng có thể áp dụng những nguyên tắc cơ bản trong tiến hóa tự nhiên vào tiến hóa xã hội, chọn lọc xã hội là một ví dụ điển hìn, những cá thể mang thông tin bất lợi cho sự tồn tại của nó hoặc thân chủ của nó sẽ tự hủy diệt, trái lại, những thông tin có lợi sẽ tiếp tục nảy nở tạo nên cái mà chúng ta ngày nay gọi là nền văn minh. Xã hội càng phát triển thì tiến hóa xã hội càng chiếm vai trò chủ đạo, thậm chí lấn át vai trò của tiến hóa tự nhiên. Khi con người nguyên thủy sống trong những nhóm nhỏ, chọn lọc tự nhiên diễn ra mạnh mẽ, con người thường xuyên phải đối mặt với sống chết từ những nguy hiểm đến từ tự nhiên như bệnh tật, thiên tai, thú dữ. Đây là động lực to lớn thúc đẩy tiến hóa ở người trong buổi sơ khai. Khi xã hội bắt đầu hình thành, các tiêu chuẩn đạo đức cũng theo đó mà phát triển, con người cần bảo vệ lẫn nhau để sinh tồn. Đó chính là cái lợi của sống trong xã hội, nhưng cũng là cái giết chết tiến hóa tự nhiên ở con người. Trong xã hội đó, những cá thể mang gen xấu, yếu ớt, bệnh tật vẫn có khả năng tồn tại và duy trì nòi giống như những cá thể thông minh khỏe mạnh nhờ sự đùm bọc của xã hội và tiến bộ trong khoa học, y tế. Trong khi đó, kẻ thủ của chúng ta: Virus, với khả năng thay đổi DNA nhanh chóng luôn tạo ra sô vố căn bệnh mới. Đây là cuộc chạy đua vũ trang của tiến hóa xã hội ở người và tiến hóa tự nhiên ở sinh vật.

Con người, có thể được coi là một trong những loài đặc biệt do tiến hóa theo hướng cải thiện trí tuệ, cũng có thể là loài thành công nhất theo hướng này. Theo các bằng chứng khảo cổ, não người hiện đại lớn hơn rất nhiều so với người nguyên thủy, tuy vậy trong vòng 35000 năm trở lại đây, não người đang có xu hướng nhỏ đi. Điều trùng hợp kỳ lạ ở đây là cũng vào cùng thời gian đó, con người bắt đầu sống tụ tập thành cộng đồng. Điều này liệu có nói lên rằng, con người đang suy giảm trí thông minh, và phải chăng đây chính là hệ quả của sự suy yếu trong vai trò của chọn lọc tự nhiên? Tiến hóa xã hội mang đến cho con người vũ khí mạnh mẽ nhưng cũng có thể làm suy yếu đi sức mạnh vốn có trong nhiệm vụ, nói đúng hơn là quy luật hết sức hiển nhiên của thế giới: sinh tồn.