Con người có tự do khi họ có khả năng hành động theo ý thích của chính họ. Một con người sống trong thiên nhiên, tách biệt với xã hội có thể được coi là có tự do tuyết đối. Nhưng liệu con người có thể vì cái tự do tuyệt đối đó mà thoát khỏi xã hội, rời xa đồng loại? Xã hội hình thành vì nó mang lại lợi ích cho mỗi cá nhân trong xã hội, nhưng để sống trong xã hội đó mỗi cá nhân phải hi sinh một phần tự do của họ, hạn chế ham muốn cá nhân vì lợi ích của người xung quanh mà nhờ đó mang lại lợi ích cho chính họ. Mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội được Jean-Jacques Rousseau miêu tả bằng khái niệm “Khế ước xã hội”. Ông cho rằng một thể loại khế ước hình thành trong xã hội nhằm điều hòa lợi ích của mỗi cá nhân, giải quyết mâu thuẫn. Trong cuốn On Liberty, John Stuart Mill cho rằng mỗi cá nhân chỉ có quyền tự do hành động trong chừng mực không làm hại đến cá nhân khác. Theo đó, dường như để sống trong xã hội ngày nay, việc hi sinh cái tự do tuyệt đối của cá nhân là không thể tránh khỏi. Nếu một cá nhân quyết tâm khá vỡ khế ước xã hội, hành động theo ý mình thì chắc hẳn hành động của cá nhân đó sẽ phương hại tới lợi ích của cá nhân khác khiến cá nhân đó phải nhận trừng phạt. So sánh trường hợp của cá nhân này với một cá nhân khác sống tách biệt với xã hội có thể thấy mặc dù khi sống tách biệt với xã hội loài người một cá nhân vẫn được coi là tự do tuyệt đối trong khi anh ta có thể gặp nhiều cản trở bởi tự nhiên khi hành động theo ý thích của mình. Cá nhân kia gặp cản trở bởi xã hội con người khi thực hiện ý thích của mình thì không được coi là có tự do tuyệt đối. Vậy có thể nói rằng khi sự cản trở việc thực hiện ý thích của một cá nhân đến từ đồng loại (con người) thì cá nhân đó mất tự do, còn nếu sự cản trở đó đến từ tự nhiên vô tri vô giác thì cá nhân đó không bị coi là mất tự do. Cái khác nhau trong hai trường hợp này nằm ở nguồn gốc của sự cản trở. Tự nhiên được coi là vô tri vô giác, tại hoa do tự nhiên gây ra là không thể oán trách. Còn cản trở đến từ con người thì hoàn toàn có thể oán trách vì con người có thể quyết định có cản trở hay không. Tuy vậy, nếu như chúng ta hiểu rằng con người cũng là một bộ phận của tự nhiên, mỗi hành động của con người cũng nằm trong quy luật tự nhiên thì việc một cá nhân bị trừng phạt vì phá vỡ khế ước xã hội và hành động theo ý thích làm phương hại tới lợi ích của các cá nhân khác cũng là một việc hết sức tự nhiên, không hề đáng oán trách. Từ ví dụ này ta có thể nói được rằng cái cản trở tự do cá nhân nằm trong chính cá nhân đó. Nếu mỗi cá nhân tự hiểu rằng hành động cản trở của cá nhân khác là hết sức tự nhiên, dễ hiểu thì tự nhiên cảm giác mất tự do sẽ mất đi. Tự do không cần một định nghĩa phức tạp. Tự do là cảm giác. Mỗi cá nhân có thể tìm cách thay đổi suy nghĩ sao cho cảm thấy tự do trong mọi hoàn cảnh sống của xã hội bằng cách hiểu rằng mỗi cá nhân khác đều có xu hướng mưu cầu lợi ích riêng* cho dù hành động đó có làm phương hại lợi ích của cá nhân khác hay không. Mỗi hành động của con người, mỗi hiện tượng xã hội đều có nguyên nhân tự nhiên của nó, con người thường phán đoán dựa trên định kiến mà không biết nguyên nhân tự nhiên của sự việc. Chính định kiến và sự thiếu hiểu biết dẫn đến cảm giác mất tự do của con người trong xã hội. Tự do tuyệt đối chỉ có thể đạt được khi hiểu bản chất tự nhiên của hiện tượng con người-xã hội.

Chú thích:
* Cũng có nhiều trường hợp dường như con người hành động không vì lợi ích riêng như làm từ thiện, giúp người hoạn nạn…Lấy việc giúp người hoạn nạn làm ví dụ, nếu không giúp thì bản thân sẽ cảm thấy khó chịu, ân hận do đó việc giúp người hoạn nạn nhằm thoát khỏi cảm giác khó chịu đó. Vậy việc giúp người hoạn nạn cũng là một hành động mưu cầu lợi ích cá nhân.